Home > Kinh Dịch > HỌC TẬP QUẺ BÁT THUẦN KIỀN QUA LỜI SOÁN

HỌC TẬP QUẺ BÁT THUẦN KIỀN QUA LỜI SOÁN

PHẦN 1: TÌM HIỂU NGUYÊN NGHĨA CỦA SOÁN TỪ và SOÁN TRUYỆN

Soán từ: Kiền, Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh 乾 元 亨 利 貞

Soán truyện: Soán viết, Đại tai Kiền nguyên. Vạn vật tư thỉ. Nãi thống Thiên. Vân hành vũ thí. Phẩm vật lưu hình. Đại minh chung thỉ. Lục vị thời thành. Thời thừa Lục long dĩ ngự thiên. Kiền Đạo biến hóa. Các chính tính mệnh. Bảo hợp Thái hoà. Nãi lợi trinh. Thủ xuất thứ vật. Vạn quốc hàm ninh.

彖 曰 . 大 哉 乾 元 . 萬 物 資 始 . 乃 統 天 . 雲 行 雨 施 . 品 物 流 形 . 大 明 終 始.六 位 時 成 . 時 乘 六 龍 以 御 天 . 乾 道 變化 . 各 正 性 命 . 保 合 太 和 . 乃 利 貞 . 首 出 庶物 . 萬 國 咸 寧 .

Soán từ quẻ Bát Thuần Kiền là lời của Thánh Văn Vương để chú giải tượng của quẻ này. Lời soán (đoán) chỉ vỏn vẹn bốn từ chính: nguyên, hanh, lợi, trinh. Đây cũng là bốn cái tánh của Trời. Nhìn tượng của quẻ, thấy sáu vạch đều dương, nên suy ra tính chất của quẻ Kiền toàn dương, tính cương kiện, mạnh mẽ. Kiền vi thiên, nghĩa là quẻ Kiền là nói về Trời, về năng lực khởi nguyên của vũ trụ vạn vật. Do vậy lời soán muốn nói rằng đức Nguyên của Kiền to lớn là điểm bắt đầu của vạn vật.

Hanh, tức là thông suốt, hanh thông, thuận tiện; mọi việc được trôi chảy, diễn tiến đều đặn, không gián đoạn. Vũ trụ vạn vật nhờ đức này mà luân lưu biến hóa, thay đổi không ngừng nghỉ, gián đoạn.

Lợi, tiện, lợi ích, điều nên, điều phải. Ngụ ý muốn nói rằng đức của Trời làm điều tiện ích có kết quả thích hợp cho tạo vật và vũ trụ trong dòng tiến hóa, phát triển hay thay đổi trong thời gian và không gian.

Trinh, nghĩa là chính trực, bền bỉ, thủy chung bất thoái chuyển. Giúp ta hiểu rằng, đức Trời là cương trực, thẳng ngay, minh chính và không đổi dời.

Bốn tính của Kiền cho thấy đức của Trời mạnh mẽ nhưng không tàn bạo, khắt khe. Nhờ vào bốn đức đó mà vạn vật sinh sôi và tiến hóa trong một trật tự nhất định liên tục trong không gian, thời gian. Đây là ý chính của Soán từ do Thánh Văn Vương chú giải tượng quẻ Bát Thuần Kiền. Tuy nhiên, lời thoán như vậy mang tính chất mô tả khái quát, đức Khổng Thánh mới viết Soán truyện để làm rõ nghĩa lý của Soán từ hơn phần nào. Căn cứ theo lời giảng giải của cụ Phan Bội Châu, Soán truyện của đức Khổng Tử làm rõ 5 điểm quan trọng của Soán từ.

Trọng điểm 1: giải thích nghĩa chữ Nguyên Tính Nguyên của Trời được Soán truyện trình bày như sau: “Đại tai Kiền nguyên. Vạn vật tư thỉ. Nãi thống Thiên.”, nghĩa là lớn thay đức Nguyên của Kiền đạo, vạn vật trong vũ trụ nhờ đức Nguyên mà khởi tạo sinh sôi nảy nở, hóa ra đức Nguyên ấy bao trùm cả trời (thiên đạo).

Trọng điểm 2: giải thích nghĩa chữ Hanh Tính Hanh của Trời được Soán truyện trình bày trong câu: “Vân hành vũ thí, phẩm vật lưu hình”, nghĩa là mây bay mưa tưới, các giống loài thành hình tiến hóa mãi.

Trọng điểm 3: “Đại minh chung thỉ. Lục vị thời thành. Thời thừa Lục long dĩ ngự thiên”, nghĩa là cái lớn thì thông suốt sáng rõ cái khởi đầu và cái kế thúc, hiểu được chữ thời của sáu hào trong quẻ Bát Thuần Kiền. Nhờ đó tùy thời cỡi sáu rồng mà cai quản cả bầu trời.

Trọng điểm 4: giải thích hai chữ Lợi, Trinh Kiền Đạo biến hóa. Các chính tính mệnh. Bảo hợp Thái hoà. Nãi lợi trinh, nghĩa là Đạo của Kiền biến hóa thay đổi khiến cho vạn vật đều có được tính mệnh, cùng giữ gìn được cái nhịp nhàng, chừng mực cao tột, hóa ra đúng lý (lợi) và chính bền (trinh).

Trọng điểm 5: Thủ xuất thứ vật (xem thêm phần chú thích Hán tự). Vạn quốc hàm ninh, nghĩa là trước hết bên ngoài lấy trung thứ ứng xử với vạn vật nhờ đó các quốc gia thảy đều được hòa bình, vô sự.

PHẦN 2: NHỮNG SUY NGHĨ, BÀI HỌC TỪ CÁC LỜI SOÁN CỦA HAI VỊ THÁNH

1.Lời soán của Thánh Văn Vương và Thánh Khổng chú thích quẻ Bát Thuần Kiền nhằm nói lên bốn cái đức (tứ đức) to lớn của Trời, Thượng đế Chí Tôn. Làm con người tại thế gian (nhân sinh) nếu noi theo đó mà tu chỉnh hành vi, hành động đúng thiên lý sẽ đứng vào hàng đại nhân thánh triết cùng Trời Đất vận hành cơ biến thiên tiến hóa của vũ trụ vạn vật

2.Trời có bốn đức lớn. Bậc Thánh nhân có tứ đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí. Trong đó, Nhân là cái đức nhất, làm gốc của lòng người; xứng với đức Nguyên của Trời. Lễ là phép tắc trật tự hợp với đạo lý nên khiến mọi việc hanh thông, xứng với đức Hanh của Trời. Nghĩa là làm việc chính đáng đúng lẽ phải nên làm mọi người cảm thấy an lạc, xứng với đức Lợi của Trời. Trí là cái đức sáng phân biệt thị phi, sáng tối để tận tri mọi việc, xứng với đức Trinh của Trời.

3.Có đức Nhân nên con người mới đúng là NGƯỜI thay Trời ở tại thế gian cầm quyền tạo hóa một cách cương kiện, mạnh mẽ mà vẫn giữ được cân bằng, ngay thẳng, trung chính. Như đức Nguyên của Trời làm cơ tạo đoan định vị nên trên dưới, hóa sanh ra vạn vật. Thiếu đức Nhân, con người cũng có thể thay đổi hoàn cảnh, chế ngự thiên nhiên, tàn phá chính sự sống của mình. Đó là trái đạo.

4.Có đức Lễ con người biết tôn kính bề trên, tôn trọng người dưới giúp cho mọi chuyện được thấu hiểu trong lòng của mọi người, từ đó giúp tập thể kết hợp hòa ái theo đúng với thánh ý thiêng liêng. Tựa đức Hanh của Trời thông suốt muôn vật, nhờ đó vũ trụ vạn vật tương trọ qua lại tạo nên một thế giới thống nhất từ thiên thượng đến thiên hạ, và trong vạn hữu chúng sanh.

5.Có đức Nghĩa, con người làm việc chi cũng thấy nhân, thấy quả, làm việc gì cũng chính đáng có giá trị cho chúng sanh vạn hữu, nên vậy cuộc sống nhân sinh mới có được sự an vui và thanh bình. Cũng như đức Lợi của Trời mà vạn vật chúng sanh được vận động đều hòa, hợp luật, hữu lý.

6.Có đức Trí, con người mới hiểu được việc mình làm, hiểu được thiên lý nhiệm mầu giúp cho hành động đúng đắn, tránh những sai lạc, lỗi lầm do sự vô minh. Nhờ đó con người luôn giữ được nhất quán để đi liên tục, không gián đoạn trên con đường đạo lý. Như đức Trinh của Trời mà vạn hữu chúng sanh liên tục tồn tại và tiến hóa theo đúng thiên điều đạo luật.

7.Tóm lại, Trời có bốn đức lớn nhờ đó mà vạn vật được sanh hóa và phát triển một cách hợp lý và bền bỉ lâu dài. Những ai hiểu và hành theo được bốn đức, nắm được sáu thời biến dịch của Thiên đạo là xứng vào bậc quân tử, đại nhân thay Trời giữ gìn cái đẹp, sự tồn vong của nhân sinh và vạn hữu. Đức Diêu Trì Kim Mẫu đã có lời dạy:

Luật Tạo Hóa sắp bày trị thế,

Cân công bình sẵn để phân minh,

Nặng lòng mình biết với mình,

Hỡi con! Con có tánh linh chăng là?

TGST Năm Ất Tỵ, 1965, trang 31

 

PHẦN 3: HÁN TỰ

Nãi (乃): hóa ra, té ra

Thí (施): cấp cho, làm ơn cho, ban phát cho

Phẩm vật (品 物): các thứ, trong đoạn Soán truyện nên hiểu là các giống loài

Lưu (流): chảy, chuyển động, cái gì đó tự nhiên chuyển đi

Thừa (乘): cỡi

Ngự (御): cai quản, thống ngự

Các chính (各 正): mọi cái được sắp đặt lại, mọi cái được sửa cho đúng

Bảo hợp (保 合): gìn giữ/chăm sóc

Thủ (首): đầu, trước hết

Thứ vật (庶物): nhiều sự vật,(恕 物): lấy lòng trung thứ mà tiếp xử với vạn vật.

Hàm ninh (咸 寧): đều hết thảy yên lặng

 

Tài liệu tham khảo:

1.Chu Dịch, Sào Nam Phan Bội Châu, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1996

2.Hán Việt Tự Điển, Thiều Chửu, NXB Tp.Hồ Chí Minh, 1997

3.Hán Việt Từ Điển Giản Yếu, Đào Duy Anh, Phan Bội Châu hiệu đính, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2005

4.Kinh Dịch – Đạo của Người Quân Tử, NXB Văn Học, 2007

5.Dịch Kinh Đại Toàn, Nhân tử Nguyễn Văn Thọ, & Huyền Linh Yến Lê

http://nhantu.net/DichHoc/DichKinhDaiToan.htm

Advertisement
Categories: Kinh Dịch
  1. No comments yet.
  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.