Home > Bài Dịch > Tolerance Isn’t Good Enough: The Need for Mutual Respect In Interfaith Relations

Tolerance Isn’t Good Enough: The Need for Mutual Respect In Interfaith Relations

Khoan Dung Không Tốt Đủ : Nhu Cầu Đối Với Sự Tôn Trọng Lẫn Nhau Trong Những Quan Hệ Giữa Các Niềm Tin Tôn Giáo

Rajiv Malhotra

Founder, Infinity Foundation1 [Nhà sáng lập tổ chức Vô Hạn]

 

Giới thiệu: Đối với tinh thần Cao Đài, thế nhân hòa là một trạng thái cân bằng hoàn hảo của mọi hình thái tâm linh của nhân sinh trong cùng một trách vụ biến cải thế giới ngày một hoàn chỉnh hơn. Người Cao Đài không chỉ đi tìm ngôn từ, mà còn kiếm giải pháp để thực hiện điều đó thông qua toàn bộ giá trị tâm linh mà các sứ đồ của Thượng Đế dù ở bất cứ một giới hạn nào đã đem lại cho con người từ trong quá khứ xa xăm. Ý tưởng của tác giả Rajiv Malhotra là một thực tiễn về ngôn từ mà qua nó người ta lột bỏ những ngụ ý về dị biệt, hàm ý về cái tuyệt đối để trở lại với cái nguyên ủy đồng chất và đồng hành trong sứ mạng thay mặt Thượng Đế quy tụ nhân sinh ở nơi trần gian và quay về với Người. Bài viết hay. Nay xin tạm dịch và giới thiệu cùng các anh chị em. Nhấn chuột vào đây để đọc hết bài dịch

It is fashionable in interfaith discussions to advocate “tolerance” for other faiths. But we would find it patronizing, even downright insulting, to be “tolerated” at someone’s dinner table. No spouse would appreciate being told that his or her presence at home was being “tolerated.” No self-respecting worker accepts mere tolerance from colleagues. We tolerate those we consider inferior. In religious circles, tolerance, at best, is what the pious extend toward people they regard as heathens, idol worshippers or infidels. It is time we did away with tolerance and replaced it with “mutual respect.”

Một chủ điểm mới thường diễn ra trong các cuộc thảo luận về các hệ niềm tin tôn giáo với người tán đồng “khoan dung” đối với các niềm tin tôn giáo khác. Nhưng chúng ta sẽ tìm thấy nó trịch thượng, thậm chí hết sức xúc phạm, để được “dung nạp” vào bàn ăn tối của một ai đó. Không có cặp đôi nào sẽ đánh giá cao việc được cho là sự hiện diện của mình ở nhà đã được “chấp nhận.” Không có nhân viên với lòng tự trọng lại chấp nhận thuần túy sự khoan dung từ đồng nghiệp. Chúng ta “khoan dung” hay “chấp nhận” những gì mà chúng ta cho rằng kém hơn, xấu hơn. Trong giới tôn giáo, khoan dung, như ý nghĩa tốt nhất của nó, là những gì mà sự đúng đắn mở ra đối với những người mà họ coi là người ngoại đạo, người tôn thờ tượng thần hay kẻ vô thần. Đó là lúc chúng ta đã kết thúc sự khoan dung và thay thế nó với “tôn trọng lẫn nhau.”

Religious tolerance was advocated in Europe after centuries of wars between opposing denominations of Christianity, each claiming to be “the one true church” and persecuting followers of “false religions.” Tolerance was a political “deal” arranged between enemies to quell the violence (a kind of cease-fire) without yielding any ground. Since it was not based on genuine respect for difference, it inevitably broke down.

Khoan dung tôn giáo đã được ủng hộ ở châu Âu sau nhiều thế kỷ của cuộc chiến tranh giữa các giáo phái đối lập của Kitô giáo, từng tự xưng là “nhà thờ thực sự” và đàn áp các tín đồ của “tôn giáo sai lầm.” Khoan dung đã là một “thủ đoạn” chính trị được sắp xếp giữa các phe đối lập để dập tắt bạo lực (một loại ngừng bắn) mà không mất đi mảnh đất nào. Bởi vì nó không dựa trên sự tôn trọng chân thật đối với sự khác biệt, nên nó chắc chắn bị phá vỡ 2.

My campaign against mere tolerance started in the late 1990s when I was invited to speak at a major interfaith initiative3 at Claremont Graduate University. Leaders of major faiths had gathered to propose a proclamation of “religious tolerance.” I argued that the word “tolerance” should be replaced with “mutual respect” in the resolution4. The following day, Professor Karen Jo Torjesen, the organizer and head of religious studies at Claremont, told me I had caused a “sensation.” Not everyone present could easily accept such a radical idea, she said, but added that she herself was in agreement. Clearly, I had hit a raw nerve.

Chiến dịch của tôi đối với sự khoan dung chỉ bắt đầu vào cuối những năm 1990 khi tôi được mời đến nói chuyện tại một buổi khơi mào về các hệ tín ngưỡng chính tại Đại học Claremont Graduate. Lãnh đạo của các tôn giáo lớn đều có mặt được để đưa ra một tuyên bố về “khoan dung tôn giáo.” Tôi cho rằng từ “khoan dung” nên được thay thế bằng “tôn trọng lẫn nhau” trong bài tham luận. Ngày hôm sau, Giáo sư Karen Jo Torjesen, nhà tổ chức và người đứng đầu nghiên cứu tôn giáo ở Claremont, nói rằng tôi đã gây ra một “cảm giác.” Không phải tất cả mọi người hiện nay có thể dễ dàng chấp nhận như là một ý tưởng cấp tiến, bà nói, nhưng nói thêm rằng bản thân bà đã đồng ý. Rõ ràng, tôi đã đánh động vào một dây thần kinh thô.

I then decided to experiment with “mutual respect” as a replacement for the oft-touted5 “tolerance” in my forthcoming talks and lectures. I found that while most practitioners of dharma religions (Hinduism, Buddhism, Jainism and Sikhism) readily espouse mutual respect, there is considerable resistance from the Abrahamic faiths.

Sau đó tôi quyết định thử nghiệm với “tôn trọng lẫn nhau” như là một sự thay thế cho từ cửa miệng “khoan dung” trong các cuộc đàm phán và bài giảng sắp tới của tôi. Tôi thấy rằng trong khi hầu hết các đạo hữu của pháp các tôn giáo (Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo Jain và đạo Sikh) sẵn sàng tán thành tôn trọng lẫn nhau, các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham không có kháng cự đáng kể.

Soon afterwards, at the United Nation’s Millennium Religion Summit in 2000, the Hindu delegation led by Swami Dayananda Saraswati insisted that in the official draft the term “tolerance” be replaced with “mutual respect.” Cardinal Joseph Ratzinger (now Pope Benedict), who led the Vatican delegation, strongly objected to this. After all, if religions deemed “heathen” were to be officially respected, there would be no justification for converting their adherents to Christianity.

Ngay sau đó, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ Tôn giáo của Liên Hiệp Quốc năm 2000, đoàn Hindu giáo dẫn đầu bởi Swami Dayananda Saraswati nhấn mạnh trong bản dự thảo chính thức thuật ngữ “khoan dung” được thay thế bằng “tôn trọng lẫn nhau.” Đức Hồng Y Joseph Ratzinger (nay là Đức Giáo Hoàng Benedict), người dẫn đầu phái đoàn Vatican, mạnh mẽ phản đối việc này. Sau tất cả, nếu các tôn giáo được coi là “ngoại đạo” được chính thức tôn trọng, sẽ không có lý do để chuyển đổi các tín đồ của họ thành Kitô hữu.

The matter reached a critical stage and some serious fighting erupted. The Hindu side held firm that the time had come for the non-Abrahamic religions to be formally respected as equals at the table and not just tolerated by the Abrahamic religions. At the very last minute, the Vatican blinked and the final resolution did call for “mutual respect.” However, within a month, the Vatican issued a new policy stating that while “followers of other religions can receive divine grace, it is also certain that objectively speaking they are in a gravely deficient situation in comparison with those who, in the Church, have the fullness of the means of salvation.” Many liberal Christians condemned this policy, yet it remains the Vatican’s official position.

Vấn đề đã đạt đến một giai đoạn quan trọng và một số tranh luận nghiêm trọng đã nổ ra. Phía Hindu giáo đã giữ vững quan điểm cho rằng đã đến lúc cho các tôn giáo không khởi nguồn từ Abraham được chính thức tôn trọng công bằng trên bàn và không chỉ được chấp nhận bởi các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham. Ở những phút cuối, Vatican chớp mắt và bản tham luận cuối cùng đã kêu gọi sự “tôn trọng lẫn nhau”. Tuy nhiên, trong vòng một tháng, Vatican đã ban hành một chính sách mới nói rằng trong khi “các tín hữu theo các tôn giáo khác có thể nhận được ân sủng của Thiên Chúa, nhưng chắc chắn rằng họ cũng đang ở trong tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng so với những người, trong Giáo Hội, về sự sung mãn của các phương tiện cứu rỗi. ” Nhiều Kitô hữu tự do lên án chính sách này, nhưng nó vẫn ở vị trí chính thức của Vatican.

My experiments in proposing mutual respect have also involved liberal Muslims. Soon after Sept. 11, 2001, in a radio interview in Dallas, I explained why mutual respect among religions is better than tolerance. One caller, identified as a local Pakistani community leader, congratulated me and expressed complete agreement. For her benefit, I elaborated that in Hinduism we frequently worship images of the divine, may view the divine as feminine, and that we believe in reincarnation. I felt glad that she had agreed to respect all this, and I clarified that “mutual respect” merely means that I am respected for my faith, with no requirement for others to adopt or practice it. I wanted to make sure she knew what she had agreed to respect and wasn’t merely being politically correct. The woman hung up.

Thí nghiệm của tôi trong việc đề xuất thuật ngữ “tôn trọng lẫn nhau” cũng liên quan đến nhóm người Hồi giáo tự do. Ngay sau ngày 11/09/2001, trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh ở Dallas, tôi đã giải thích lý do tại sao sự tôn trọng lẫn nhau giữa các tôn giáo tốt hơn sự khoan dung. Một người gọi điện thoại đến, xác định là một nhà lãnh đạo cộng đồng địa phương Pakistan, đã chúc mừng tôi và bày tỏ sự đồng hoàn toàn. Đối với lợi ích của bà, tôi đã xây dựng công phu tỉ mỉ rằng trong Hindu giáo, chúng tôi thường xuyên thờ những hình ảnh thờ của Thánh Thần, điều đó có thể xem các thần thánh như là nữ tính, và chúng tôi tin vào thuyết luân hồi. Tôi cảm thấy vui mừng vì bà ta đã đồng ý tôn trọng tất cả điều này, và tôi làm rõ rằng “tôn trọng lẫn nhau” chỉ có nghĩa là tôi tôn trọng cho đức tin của tôi, không có yêu cầu cho những người khác để áp dụng hoặc thực hành. Tôi muốn chắc chắn cô ấy biết những gì cô ấy đã đồng ý tôn trọng và không chỉ đơn thuần là sự lý giải có tính chính trị. Người phụ nữ treo lên6.

In 2007, I was invited to an event in Delhi where a visiting delegation from Emory University was promoting their newly formed Inter-Religious Council as a vehicle to achieve religious harmony. In attendance was Emory’s Dean of the Chapel and Religious Life, who happens to be an ordained Lutheran minister. I asked her if her work on the Inter-Religious Council was consistent and compatible with her preaching as a Lutheran minister, and she confidently replied that it was. I then asked: “Is it Lutheran doctrine merely to ‘tolerate’ other religions or also to respect them, and by respect I mean acknowledging them as legitimate religions and equally valid paths to God”? She replied that this was “an important question,” one that she had been “thinking about,” but that there are “no easy answers.”

Trong năm 2007, tôi được mời đến một sự kiện ở Delhi, nơi một đoàn đại biểu đến từ Đại học Emory đã đang phát huy một hình thức mới của Hội đồng liên tôn giáo của họ như một phương tiện để đạt được sự hòa hợp tôn giáo. Tham dự có trưởng lão của Nhà thờ và Đời sống Tôn giáo của Emory, người được thụ phong làm mục sư của giáo phái Lute. Tôi hỏi bà nếu công việc của mình ở Hội đồng liên tôn giáo là phù hợp và tương thích với các rao giảng của mình như là một mục sư Lute, và bà tự tin trả lời rằng nó đúng là vậy. Sau đó tôi hỏi: “Có phải giáo lý Lute thuần túy để “chấp nhận” các tôn giáo khác hay cũng tôn trọng họ, và bằng sự tôn trọng tôi muốn nói là thừa nhận chúng như là các tôn giáo hợp pháp và hợp lệ như nhau đường dẫn đến Thượng Đế”? Cô ấy trả lời rằng đây là “một câu hỏi quan trọng”, một là cô đã phải “suy nghĩ về,” nhưng điều đó có “không có câu trả lời dễ dàng.”

It is disingenuous for any faith leader to preach one thing to her flock while representing something contradictory to naive outsiders. The idea of “mutual respect” poses a real challenge to Christianity, which insists that salvation is only possible by grace transmitted exclusively through Jesus. Indeed, Lutheran teaching stresses this exclusivity! These formal teachings of the church would make it impossible for the Dean to respect Hinduism, as opposed to tolerating it.

Không trung thực đối với bất kỳ nhà lãnh đạo đức tin để rao giảng một điều cho tín hữu của bà trong khi lại đại diện cho một cái gì đó mâu thuẫn với người ngây thơ ở bên ngoài. Ý tưởng về “tôn trọng lẫn nhau” đặt ra một thách thức thực sự đối với Kitô giáo, trong đó khẳng định sự cứu rỗi chỉ có thể được ân truyền độc quyền thông qua Chúa Giêsu. Thật vậy, lời giáo huấn của các nhà truyền giáo Lute giảng dạy nhấn mạnh sự độc quyền này! Những giáo huấn chính thức của nhà thờ sẽ khiến cho nó không thể đối với các trưởng lão để tôn trọng Hindu giáo, trái với chấp nhận nó.

Unwilling to settle for ambiguity, I continued with my questions: “As a Lutheran minister, how do you perceive Hindu murtis (sacred images)? Are there not official injunctions in your teachings against such images?” “Do you consider Krishna and Shiva to be valid manifestations of God or are they among the ‘false gods’?” “How do you see the Hindu Goddess in light of the church’s claim that God is masculine?” The Dean deftly evaded every one of these questions.

Không mong muốn giải quyết cho sự mơ hồ, tôi tiếp tục với câu hỏi của tôi: “Là một mục sư Lute, làm thế nào để bà cảm nhận hình ảnh thiêng liêng của Hindu giáo? Có hay không các lời huấn thị chính thức trong giáo lý của bà chống lại các hình ảnh như vậy?” “Bà có xem Krishna và Shiva được biểu hiện giá trị của Thượng Đế hay là đó chỉ là những “thần sai lạc?” “Làm thế nào để bạn nhìn thấy Nữ thần Hindu trong ánh sáng của lời tuyên xưng của nhà thờ Thiên Chúa rằng Thượng Đế là nam tính?” Các trưởng lão đã khéo léo trốn từng câu của những câu hỏi này.

Only a minority of Christians agree with the idea of mutual respect while fully understanding what it entails. One such person is Janet Haag, editor of Sacred Journey, a Princeton-based multi-faith journal. In 2008, when I asked her my favorite question — “What is your policy on pluralism?” — she gave the predictable response: “We tolerate other religions.” This prompted me to explain mutual respect in Hinduism wherein each individual has the freedom to select his own personal deity (ishta-devata, not to be confused with polytheism) and pursue a highly individualized spiritual path (sva-dharma). Rather than becoming defensive or evasive, she explored this theme in her editorial in the next issue:

Chỉ có một thiểu số các Kitô hữu đồng ý với ý kiến về sự tôn trọng lẫn nhau khi hiểu biết một cách đầy đủ những gì nó đòi hỏi. Một trong những người đó là Janet Haag, biên tập viên của Sacred Journey, một tạp chí đa đức tin của Princeton. Trong năm 2008, khi tôi hỏi bà về câu hỏi mà tôi yêu thích – “Chính sách về đa nguyên là gì?” – Bà ấy đã phản ứng như dự đoán: “Chúng tôi khoan dung đối với các tôn giáo khác.” Điều này nhắc tôi giải thích tôn trọng lẫn nhau trong Hindu giáo, trong đó mỗi cá nhân có sự tự do để chọn vị thần của riêng cá nhân của mình (ishta-devata, không nên nhầm lẫn với các tôn giáo đa thần) và theo đuổi một con đường tâm linh siêu việt (sva-dharma). Thay vì trở thành phòng thủ hoặc lấp lửng, bà khám phá chủ đề này trong bài xã luận của mình trong các vấn đề sau:

“In the course of our conversation about effective interfaith dialog, [Rajiv Malhotra] pointed out that we fall short in our efforts to promote true peace and understanding in this world when we settle for tolerance instead of making the paradigm shift to mutual respect. His remarks made me think a little more deeply about the distinctiveness between the words ‘tolerance’ and ‘respect,’ and the values they represent.”

“Trong quá trình hội thoại của chúng tôi về hiệu quả của đối thoại niềm tin đa tôn giáo, [Rajiv Malhotra] chỉ ra rằng chúng ta thất bại trong các nỗ lực của chúng ta để thúc đẩy hòa bình thực sự và hiểu biết trong thế giới này khi chúng ta giải quyết cho sự khoan dung, thay vì làm cho các chuyển đổi mô hình để tôn trọng lẫn nhau. Nhận xét của ông làm cho tôi nghĩ một chút sâu hơn về các khác biệt giữa hai từ “khoan dung” và “tôn trọng”, và các giá trị mà chúng đại diện. “

Haag explained that the Latin origin of “tolerance” refers to enduring and does not convey mutual affirmation or support: “[The term] also implicitly suggests an imbalance of power in the relationship, with one of the parties in the position of giving or withholding permission for the other to be.” The Latin word for respect, by contrast, “presupposes we are equally worthy of honor. There is no room for arrogance and exclusivity in mutual respect.”

Haag giải thích rằng nguồn gốc Latin của “khoan dung” muốn nói về sự chịu đựng và không chuyển tải sự xác nhận và hổ trợ lẫn nhau: “[thuật ngữ] cũng mặc nhiên gợi cho thấy sự mất cân bằng quyền lực trong mối quan hệ, với một trong các bên ở vị trí cho hoặc khước từ sự cho phép người khác được là chính họ. ” Từ tôn trong trong Tiếng Latin, ngược lại, “giả định chúng ta đều xứng đáng với danh dự một cách công bằng. Không có chỗ cho sự kiêu ngạo và độc quyền trong tôn trọng lẫn nhau.”

 

Nội dung của bài viết tại: http://www.huffingtonpost.com/rajiv-malhotra/hypocrisy-of-tolerance_b_792239.html

 

Sài Gòn, 15/12/2010

Thanh Long dịch

##########################################################################

1Để tìm hiểu thêm về tổ chức Infinity, vui lòng đến trang http://infinityfoundation.com/index.shtml

2Câu này tương đương về nội dung của câu hiệp mà không hòa thì thể nào cũng chia rẻ. Hòa có thuộc tính là chân thật, thành khẩn.

3 Interfaith initiative: không biết dịch sao cho đúng, tạm dùng là buổi khơi mào về các hệ tín ngưỡng

4Resolution được dịch là bài tham luận không biết có chuẩn không.

5Oft-touted: chắc dịch là cửa miệng là hay nhất

6Không hiểu câu này nói đến ý nghĩa gì. Nhưng đoán là người phụ nữ đã hoàn toàn bị chinh phục bởi quan điểm về “tôn trọng lẫn nhau”

Advertisement
  1. No comments yet.
  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.